Lịch sử
Khái niệm về BIM đã tồn tại từ thập kỷ 1970. Thuật ngữ ‘mô hình công trình’ (đồng nghĩa với khái niệm BIM được sử dụng ngày nay) xuất hiện lần đầu vào năm 1985 trong tài liệu của Simon Ruffle và năm 1986 trong tài liệu của Robert Aish sau đó tới lượt GMW Computers Ltd, công ty phát triển phần mềm RUCAPS – đề cập tới việc ứng dụng các phần mềm tại sân bay Heathrow, London. Thuật ngữ ‘mô hình thông tin công trình‘ lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1992 trong tài liệu của G.A. van Nederveen và F. P. Tolman.
Lãng Quên và Tái Sinh
Thuật ngữ ‘Mô hình thông tin công trình‘ và ‘Mô hình hóa thông tin công trình‘ đã không được sử dụng phổ biến cho đến 10 năm sau đó, khi vào năm 2002 hãng Autodesk phát hành một cuốn sách với đề tựa “Building Information Modeling“và các nhà cung cấp phần mềm khác cũng bắt đầu khẳng định sự quan tâm tới lĩnh vực này. Dựa vào những đóng góp từ Autodesk, Bentley Systems và Graphisoft, cộng thêm những quan sát với các ngành công nghiệp khác, vào năm 2003 Jerry Laiserin đã giúp phổ biến và tiêu chuẩn hóa thuật ngữ này như là một tên gọi chung cho “sự mô phỏng kỹ thuật số quá trình xây dựng một công trình”. Trước đó, việc trao đổi và kiểm tra sự tương thích của thông tin kỹ thuật số từng được gọi dưới những cái tên khác nhau như “Virtual Building” (Công trình ảo) bởi Graphisoft, “Integrated Project Models” (Mô hình dự án tích hợp) bởi Bentley Systems, hay “Building Information Modeling” (Mô hình hóa thông tin công trình) bởi Autodesk và Vectorworks.
Thuật ngữ BIM
Viết tắt của
Building Information Modeling (Mô hình thông tin công trình)
Chia thành 2 dạng phổ biến Closed Bim và Open Bim (chi tiết thì sẽ cập nhật bài sau.)
Cơ sở phát triển mô hình thông tinh công trình là tất cả các dữ liệu được số hóa, thuật ngữ hóa, dữ liệu hóa. và phân chia theo cấp độ phát triển từ 1D,2D,3D,4D,5D,7D,7D..
Thuật ngữ ‘Mô hình thông tin công trình‘ và ‘Mô hình hóa thông tin công trình‘ đã không được sử dụng phổ biến cho đến 10 năm sau đó, khi vào năm 2002 hãng Autodesk phát hành một cuốn sách với đề tựa “Building Information Modeling“và các nhà cung cấp phần mềm khác cũng bắt đầu khẳng định sự quan tâm tới lĩnh vực này. Dựa vào những đóng góp từ Autodesk, Bentley Systems và Graphisoft, cộng thêm những quan sát với các ngành công nghiệp khác, vào năm 2003 Jerry Laiserin đã giúp phổ biến và tiêu chuẩn hóa thuật ngữ này như là một tên gọi chung cho “sự mô phỏng kỹ thuật số quá trình xây dựng một công trình”. Trước đó, việc trao đổi và kiểm tra sự tương thích của thông tin kỹ thuật số từng được gọi dưới những cái tên khác nhau như “Virtual Building” (Công trình ảo) bởi Graphisoft, “Integrated Project Models” (Mô hình dự án tích hợp) bởi Bentley Systems, hay “Building Information Modeling” (Mô hình hóa thông tin công trình) bởi Autodesk và Vectorworks.
Viết tắt của
BIM 3D, 4D, 5D, 6D, 7D….
BIM về cơ bản sẽ xoay quanh các mô hình thông tin 3D (3 chiều/3-dimension gồm dài, rộng, cao) được cập nhật và sử dụng trong suốt vòng đời của công trình. Sự phát triển không ngừng của công nghệ cũng kéo theo sự phát triển của BIM, nhiều yếu tố nữa được tích hợp vào quy trình này tạo nên các khái niệm 4D, 5D, 6D, 7D…, mỗi một yếu tố được quy ước thành một chiều (dimension) mới.
-
4D BIM: là mô hình BIM được tích hợp thêm yếu tố thời gian (quản lý tiến độ công trình). Mô hình 4D BIM cho phép nhà thầu tính toán và kiểm soát tiến độ thi công, nguồn cung và nhân lực trong quá trình thi công.
-
5D BIM: là mô hình 4D BIM tích hợp thêm yếu tố chi phí và hao phí, được ứng dụng để lập dự toán chi phí, kiểm soát vốn cho dự án.
-
6D BIM: là một nâng cấp của mô hình 5D BIM, kiểm soát thêm yếu tố năng lượng trong và ngoài công trình. Được các nhà thiết kế ứng dụng để kiểm soát các chỉ số năng lượng, nhiệt độ, ánh sáng của công trình.
-
7D BIM: là mô hình BIM tích hợp thêm thông tin về các thiết bị được sử dụng trong công trình với độ chi tiết cao dùng trong việc bảo trì bảo dưỡng trong quá trình vận hành của công trình.


